HÓA THẠCH ĐỘNG VẬT THÂN MỀM TRIAS MUỘN (CARNI) TRONG HỆ TẦNG SUỐI BÀNG, VÙNG ME, NINH BÌNH

Các nhà khoa học Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam cùng các nhà khoa học của Đại học Kumamoto, Đại học Ehime, Đại học Tokyo, Đại học Chou và Bảo tàng Tự nhiên và Khoa học Quốc gia, Nhật Bản trong các cuộc khảo sát ở vùng Me, Gia Viễn, Ninh Bình đã thu thập được các hóa thạch Động vật thân mềm Trias sớm ở phần dưới của hệ tầng Suối Bàng. Ở đây, hệ tầng Suối Bàng, hệ tầng đặc trưng bởi các đá trầm tích thô dần từ bùn kết thềm lục địa đến cát kết gần bờ với sự phân tầng chéo không bằng phẳng. Bùn kết giàu vật chất hữu cơ chứa các hóa thạch chỉ định tuổi như Cúc đá Discotropites sp. và Hai mảnh vỏ Halobia convexa Chen, 1964 đặc trưng cho tuổi Carni.

Hình 1: A. Vị trí tìm thấy các hóa thạch Động vật thân mềm. B - Đới bùn kết và cát kết xen kẽ kẹp các lớp mỏng xiên chép(CS) chứa vật liệu hỗn độn. C - Các lớp cát kết phân tầng chéo không bằng phẳng (HSC). D – Các lớp xiên chéo chứa sạn cát kết.

            Trong vùng nghiên cứu, ở phần thấp mặt cắt (H.1A) gồm các trầm tích bùn kết màu xám chứa các hóa thạch Động vật thân mềm đặc trưng, H. convexa Discotropites sp.. nằm trên lớp cát kết dày điển hình cho địa tầng chéo không bằng phẳng (HCS). HCS được xem là được thành tạo từ các dòng chảy dao động mạnh và kết hợp với nhau trong bão. Các lớp cát kết dày HCS thường được tích lũy bởi môi trường gần bờ năng lượng lớn từ bão hoặc sóng. Mặt cắt ở đây điển hình cho trầm tích chuyển tiếp từ biển nông đến biển gần bờ chịu tác động của sóng từ bão và môi trường ven bờ.

            Costatoria spp. phân bố trong các lớp cát kết ven bờ đặc trưng bởi các tầng xiên chéo không bằng phẳng, các lớp xiên chéo và thường xen kẹp các lớp cát kết và bùn kết.  Trong các lớp bùn kết trong thềm thường chứa các hóa thạch bảo tồn tốt như Costatoria spp., Unionites  sp. Các lớp bùn kết ngoài thềm đặc trưng bởi các hóa thạch Halobia convexa Discotropites sp. bảo tồn tốt.

Hình 2: Hóa thạch thân mềm ở phần dưới hệ tầng Suối Bàng, Vùng Me, Gia Viễn, Ninh Bình. A-D, F: Hai mảnh vỏ Halobia convexa Chen, A- CS. 460.7; B - CS. 460. 6; C - CS. 460. 12, mảnh phải (mũi tên); D - CS. 460. 10; F - CS. 460.8. E, G: Halobia convexa Chen, 1964. E - CS. 460. 14, mảnh phải; G- KMSP – 5199, mảnh phải (mũi tên). H, I: Discotropites sp. H - CS. 461. 7; I - CS. 450. Thước tỉ lệ 1cm.

Bài báo đăng trên tạp chí Bảo tàng Khoa học và Tự nhiên Nhật Bản, loạt C, số 43, trang 1-10.

Chi tiết bài báo: https://www.kahaku.go.jp/english/research/researcher/papers/264970.pdf

Tin: Phòng Địa chất - Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam, VAST

Tin cùng loại