NGHIÊN CỨU MỚI VỀ DANH PHÁP VÀ PHÂN LOẠI CỦA CHI TẦM MA (ELATOSTEMA) Ở VIỆT NAM

Chi Tầm ma (Elatostema) họ Gai (Urticaceae), gồm khoảng 600 loài, chủ yếu là thân thảo, mọng nước, sinh trưởng dưới tán rừng. Chi này phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Phi, châu Á, châu Úc và châu Đại Dương. Khu vực núi đá vôi ở Đông và Đông Nam Á được xem xét là trung tâm đa dạng của chi này. Những nghiên cứu trước đó chỉ ra rằng phân loại chi này vẫn còn nhiều quan điểm chưa thống nhất, đặc biệt là giới hạn của chi Elatostema, với Elatostematoides, Pellionia, và Procris. Nghiên cứu gần đây nhất trên cơ sở dữ liệu phân tử kết hợp cũng với đặc điểm hình thái đặc trưng của lá, cụm hoa và hoa, Tseng & cs. (2019) đã khẳng định chi Elatostema là 1 nhóm đơn phát sinh và bao gồm các loài của chi Pellionia, nhưng không bao gồm loài Pellionia repens và các chi Procris, Elatostematoides.

Gagnepain (1930), là người đầu tiêu ghi nhận 34 loài của chi Elatostema cho hệ thực vật Việt Nam (bao gồm các loài Pellionia). Nghiên cứu sau đó, Phạm Hoàng Hộ (2003) và Nguyễn Tiến Hiệp (2005) đã báo cáo 32-35 loài của chi này ở Việt Nam. Nghiên cứu gần đây, các tác giả đã ghi nhận bổ sung thêm 27 loài và chỉnh lý danh pháp cho một số loài của chi Elatostema cho khu hệ thực vật Việt Nam. Tuy nhiên, chi này vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ và mang tính hệ thống ở Việt Nam.

Trong khi nghiên cứu hệ thống học và phân loại chi Elatostema ở khu vực Đông và Đông Nam Á, trên cơ sở hàng loạt các nghiên cứu ngoài thực địa ở Việt Nam (từ năm 2009-2018), nghiên cứu các mẫu tiêu bản, mẫu chuẩn (type) và bản mô tả gốc (protologue), các nhà khoa học của Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam, Viện Thưc vật Quảng Tây, Trung Quốc đã ghi nhận 77 taxa (75 loài và 2 dưới loài) của chi Elatostema ở Việt Nam, trong đó 23 taxa là thuộc chi Pellionia, 19 loài là ghi nhận mới cho Việt Nam: E. attenuatoides, E. austrosinense, E. backeri, E. brunneinerve, E. crassiusculum, E. crenatum, E. fengshanense, E. glochidioides, E. malacotrichum, E. nanchuanense, E. oblongifolium, E. obtusum, E. oppositum, E. pergameneum, E. prunifolium, E. pseudolongipes, E. pycnodontum, E. salvinioides, E. xichouense. Chúng tôi cũng đề xuất E. baviensis là tên đồng nghĩa của E. platyphyllum, E. colaniae là tên đồng nghĩa của E. myrtillus, P. macroceras là tên đồng nghĩa của E. hookerianum, và P. tetramera là tên đồng nghĩa của E. dissectum. 14 taxa (chiếm 18%) là đặc hữu của Việt Nam, đã khẳng định chi Elatostema là một trong những chi có tính đa dạng và tính đặc hữu cao trong khu hệ thực vật Việt Nam. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, miền Bắc Việt Nam là trung tâm đa dạng và đặc hữu nhất của chi Elatostema, - nơi khu hệ thực vật có tính tương đồng và quan hệ gần gũi với khu hệ thực vật phía Tây Nam của Trung Quốc. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, chưa ghi nhận phân bố của chi này ở 33 tỉnh của Việt Nam, chủ yếu là các tỉnh phía Nam. Do đó, cần có những nghiên cứu thêm ở khu vực Trung và Nam Bộ để ghi nhận sự phân bố của chi này ở các vùng địa lý khác nhau.

Kết quả nghiên cứu vừa được đăng trên tạp chí chuyên ngành PeerJ. Thông tin chi tiết tại https://peerj.com/articles/6188/?utm_source=TrendMD&utm_campaign=PeerJ_TrendMD_0&utm_medium=TrendMD

TS. Đỗ Văn Trường

Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Ảnh: Một số loài Elatostema bổ sung cho khu hệ thực vật Việt Nam. (A), E. caulialatum; (B), E. radicans; (C), E. tsoongii; (D), E. sinense; (E), E. brevifolium; (F), E. macintyrei; (G), E. balansae; (H), E. myrtillus; (I) E. platyphyllum; (J) E. petelotii; (K) E. longistipulum; (L) E. pseudolongipes (Nguồn: Fu et al. 2019)

Tin cùng loại