PHÁT HIỆN LOÀI DƯƠNG XỈ MỚI CHO KHOA HỌC TỪ TỨ XUYÊN, TRUNG QUỐC

Loài dương xỉ mới cho khoa học thuộc chi Woodsia, họ Woodsiaceae được phát hiện và mô tả mới. Loài mới này có tên khoa học là Woodsia kungiana. Loài mới có đặc điểm hình thái gần nhất với loài Woodsia cycloloba nhưng khác nhau về hình thái vẩy và bao mô.

Danh pháp và hệ thống phân loại của chi Woodsia khá phức tạp. Số lượng loài ước tính khoảng 22-59 loài. Từ khi được mô tả đầu tiên, chi Woodsia phân tách thành nhiều chi như Physematium, Hymenocystis, Cheilanthopsis, Protowoodsia, Eriosoriopsis Woodsiopsis theo nghĩa rộng.

Trong quá trình khảo sát thực địa ở Tây Tứ Xuyên, chúng tôi thu và mô tả loài mới này. Chi tiết về loài mới như sau:

Loài mới Woodsia kungiana Li Bing Zhang, T.N.Lu & X.F.gao.
Type:—CHINA. Sichuan Province: Kangding County, Sanhe Township, Pengta Village, 30.4420766 N, 102.361078 e, elev. 4080 m, 15 august, 2017. Gao Xin-Fen & Yang Yan THP-KD-4887 (holotype CDBI!, isotype CDBI!).

Loài mới phân bố ở làng Pengta, Kangdinh, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Mẫu chuẩn và đồng chuẩn đang lưu giữ tại Phòng mẫu Viện Sinh học Thành Đô, Trung Quốc. Về mặt hình thái loài mới này giống với loài Woodsia cycloloba Handel-Mazzetti. Cả hai loài có chung đặc điểm đều có thân rễ dài, cuống màu tím-đen, trơn và nhẵn bóng, phiến lá 1 lần kép lông chim với chóp lá riêng biệt, nhưng loài mới có đặc điểm riêng khác với loài gần nhất là trục lá với lông có đốt nối, vẩy nhỏ dạng đường kẻ, bề mặt sau của phiến lá và mép có lông rải rác, bao mô dạng cốc và xẻ. Trong khi đó loài W. cycloloba có trục lá với lông có khớp nối nhưng hiếm khi có vẩy dạng tuyến, mặt sau và mép phiến lá mang nhiều lông, không có bao mô.

Loài mới có tính ngữ loài mang tên của của giáo sư Hsian-Shiu Kun nhằm tôn vinh những cống hiến của giáo sư trong sự nghiệp nghiên cứu dương xỉ.

Kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí Phytotaxa năm 2019 số 397, trang 253-256.

Một số hình ảnh về loài mới:

Hình 1. Woodsia kungiana.—A. Hình thái chung và dạng sống.—B. Mặt trước của lá.—C. Mặt sau của lá.—D. Thân rễ.—E. Cuống lá.—F. Cuống lá gẫy thành các đoạn ngắn.—G. Lá chét ở gốc.—H. Vẩy ở gốc cuống lá.—I.Vẩy ở phần trên cuống lá.—J. Lá chét với lông rải rác.—K. Bao mô dạng cốc.—L. Lá chét với ổ túi bào tử trần.—M. Một phần của phiến lá với lông và ổ túi bào tử.

Hình 3. Hình thái vẩy, bào tử, bao mô của ba loài mới. A–C, H, I & L. Arachniodes quangnamensis.—A. Vẩy thân rễ.—B. Vẩy đoạn dưới của cuống lá.—C. Vẩy đoạn trên của cuống.—H & I. Ảnh hình thái bào tử qua SEM.—L. Bao mô mép xẻ. D, E, J, K & N. A. longicaudata.—D. Vẩy đoạn dưới của cuống lá.—E. Vẩy đoạn trên của cuống.—J & K. Ảnh hình thái bào tử qua SEM. —N. Bao mô mép xẻ dạng sợi dài. F, G & M. A. daklakensis.—F. Vẩy đoạn dưới của cuống lá.—G. Vẩy đoạn dưới của cuống lá.—M. Bao mô mép xẻ dạng sợi dài

Hình 4. A–H: Arachniodes quangnamensis.—A & B. Dạng sống.—C. Lá không sinh sản.—D. Đoạn dưới của cuống.—E. Lá sinh sản.—F. Một đoạn của phiến lá và lá chét.—G. Vẩy ở trục lá và lá chét nhỏ.—H. Lá chét với ổ túi bào tử và vi vẩy. J–P: A. daklakensis. —J. Lá.—K & M. Lá chét bên dưới nhất của lá.—L. Gốc cuống lá và vẩy.—N. Đỉnh phiến lá.—O. Lá chét phía trên.—P. Lá chét thứ cấp và ổ túi bào tử.

Tin: Lữ Thị Ngân
Phòng Sinh học, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Tin cùng loại