PHÁT HIỆN MỘT LOÀI CÁ PHÈN MỚI CHO KHOA HỌC Ở BIỂN ẤN ĐỘ DƯƠNG

Một loài cá Phèn mới cho khoa học thuộc giống Parupeneus (Họ Mullidae) được các nhà khoa học phát hiện và mô tả từ biển Ấn Độ Dương. Những dẫn liệu mới về phân bố của loài Parupeneus jansenii ở phía tây Thái Bình Dương cũng được cập nhật.

Các loài cá phèn thuộc giống Parupeneus từ các khu vực thuộc biển Ấn Độ-Tây Thái Bình Dương đã được nghiên cứu, các loài này được gọi chung là nhóm “heptacanthus” với đặc điểm chung là hình dạng mép biên hàm trên có dạng đối xứng lồi, tròn đều. Chúng tôi đã sử dụng cách tiếp cận phân loại toàn diện bậc Alpha 62 chỉ số hình thái cũng như các đặc điểm về màu sắc của 180 mẫu vật của 11 loài Parupeneus. Số liệu hình thái của các loài được chia thành 2 dạng kích thước phù hợp với tương quan sinh trưởng của cơ thể (Cá cỡ nhỏ: <110 mm SL; cá cỡ lớn 110 mm SL). Loài mới Parupeneus inayatae Uiblein & Fahmi đã được mô tả dựa trên mẫu vật được thu thập ở phía tây nam Lambok, Indonesia, trong nghiên cứu này chúng tôi cũng ghi nhận vùng phân bố mới cho 4 loài cá Phèn giống Parupeneus từ biến Ấn Độ Dương:  loài P fraserorum cho khu vực Mozambique, P jansenii cho Myanmar và đông bắc Ấn độ dương, P nansen cho Tanzania và loài P procerigena cho khu vực  Nazareth Bank and Mauritus (Cargados Carajos Bank) phía đông của Ấn Độ Dương. Loài P. jansenii từ Myanmar đã được so sánh chi tiết về hình thái với 37 mẫu vật cùng loài từ toàn bộ phạm vi phân bố của loài này trên thế giới (từ phía tây Indonesia, Việt Nam, Đông bắc Úc đến Nhật Bản). Nghiên cứu này cũng ghi nhận vùng phân bố mới cho loài P. jansenii cho miền trung Philippine và đảo Shikoku Nhật Bản. Các chỉ tiêu chuẩn loại cùng với các nhận xét về mối quan hệ về kích thước cơ thể, giữa các quần thể cũng như các quan sát đáng chú ý khác của 8 loài cá Phèn thuộc nhóm “heptacanthus” đã được cung cấp.

Loài mới Parupeneus inayatae được phân biệt với 32 loài cùng giống bởi các đặc điểm: Mặt lưng phía trước mắt có dạng lõm, mép sau của xương hàm trên có dạng đối xứng lồi, tròn đều, thân, đầu và cuống đuôi có chiều cao vừa phải, vây ngực và vây bụng dài bằng nhau. Chiều cao cuống đuôi lớn hơn 9.5% so với chiều dài chuẩn; màu sắc mẫu vật khi còn tươi có một đốm sẫm mầu trên đường bên bên dưới khoảng cách giữa 2 vây lưng, tiếp theo phía sau là 1 đốm màu cam sáng. So sánh chi tiết về hình thái học giữa 8 loài thuộc nhóm “heptacanthus” và với 3 loài tương tự về mặt hình thái đã cho thấy có sự tương đồng đáng kể giữa hai cặp loài là: P. jansenii (Đông Ấn Độ Dương và tây Thái Bình Dương) và P. nansen (Tây Ấn Độ Dương), và P. fraserorum and P. procerigena (Tây Ấn Độ Dương). Do đó cần có nhiều hơn nữa các nghiên cứu về phân loại học, sinh học và sinh thái học của các loài cá Phèn trong khu vực rộng lớn của vùng biển Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương.

Thông tin loài cá Phèn mới được mô tả:

Parupeneus inayatae Uiblein & Fahmi, 2018

Loài mới Parupeneus inayatae được đặt theo tên của nhà khoa học đa dạng sinh học biển tại Trung tâm nghiên cứu Hải dương học, Viện khoa học Indonesia, Inayat Al Hakim.

Tên việt nam: Cá Phèn Inayat

Tên tiếng anh: Inayat’s goatfsh

Mẫu chuẩn: MZB 24565, 150 mm SL, Indonesia, EIO (phía đông Ấn Độ Dương), Tanjung Luar, SE (Đông Nam) Lombok, fish market, 25-10-2008, người thu mẫu William T. White (CSIRO, Austraylia)

Mẫu chuẩn loài Parupeneus inayatae n. sp., MZB 24565, 150 mm SL, SE Lombok, Indonesia; Fresh (side reversed; William T. White)


Đặc điểm chuẩn loại:

Số tia vây ngực: 15-16; số lược mang trên cung mang đầu tiên: 7 + 22 = 29; số vảy đường bên: 27. Tỉ lệ % các chỉ tiêu đo so với chiều dài chuẩn (SL): Chiều cao thân tại khởi điểm vây lưng thứ nhất 30; chiều cao thân tại khởi điểm vây hậu môn 24; chiều cao cuống đuôi 11; caudal-peduncle depth 11; chiều cao đầu lớn nhất 26; chiều cao đầu qua giữa mắt 22; khoảng cách giữa 2 mắt 8.8; chiều dài đầu 32; chiều dài mõm 16; chiều dài sau ổ mắt 11; đường kính mắt 7.2; chiều dài xương hàm trên 12; chiều dài râu 24; chiều dài cuống đuôi 24; chiều dài vây đuôi 29; chiều cao vây hậu môn 14; chiều dài vây bụng 24; chiều dài vây ngực 24; chiều cao vây lưng thứ nhất 20; chiều cao vây lưng thứ hai 13. Mặt lưng phía trước mắt có dạng lõm; mép phía sau của xương hàm trên có dạng đối xứng lồi, tròn đều; thân và đầu có màu đỏ ; có thể trở nên sáng hơn ở phía dưới đường bên có màu đỏ đến cam hồng dần xuống phía dưới cơ thể; một đốm sẫm mầu trên đường bên bên dưới khoảng cách giữa 2 vây lưng, tiếp theo phía sau là 1 đốm màu cam sáng; 4 sọc màu vàng bên dưới đường bên; rìa nắp mang và phía trước nắp mang có màu đỏ; gốc vây lưng thứ 2 có màu đỏ, phía trên có các dải màu vàng; Vây hậu môn có màu phớt hồng với 3 dải màu vàng xen kẽ; vây đuôi có màu đỏ, xen lẫn màu màu cam ở phía cuối; râu có màu phớt hồng; cá sau khi bảo quản có màu nâu nhạt, nắp mang đen đậm hơn.

Phân bố: mới được biết đến ở Lombox, Indonesia, phía đông Ấn Độ Dương.

Tin: Franz Uiblein, Hoàng Anh Tuấn, Ulysses AlAmA, Romain CAUsse, osvaldo e. CHACATe, Fahmi, soledad gARibAy & Patroba mATikU

Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, VAST

Bài báo được đăng trên Tên tạp chí “French Ichthyological Society-Cybium”. Tập 42 số 3 năm 2018, trang 229-256.

Tin cùng loại