PHÁT HIỆN MỘT GIỐNG MỚI VÀ 2 LOÀI VE SẦU MỚI THUỘC TỘC LEPTOPSALTRIINI (HEMIPTERA: CICADIDAE: CICADINAE) CHO KHOA HỌC

Các nhà côn trùng học Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam vừa công bố một giống mới và 2 loài ve sầu mới cho khoa học: giống mới Versicolora và 2 loài mới: loài Versicolora ziyongi ở Trung Quốc và loài Versicolora bellula ở Trung Quốc và Việt Nam. Giống mới này thuộc tộc Leptopsaltriini, phân họ Cicadinae, họ Cicadidae, phân bộ ve rầy Auchenorrhyncha, bộ Hemiptera.

Giống này có một số đặc điểm gần với giống Tanna nhưng có một số đặc điểm khác với giống Tanna bởi uncus phân nhánh và dorsal beak của pygofer rất ngắn. Giống Versicolora, với các đặc điểm hình thái sau: màng che cơ quan phát thanh con đực phát triển; đốt bụng thứ 3 với một đôi mấu lồi nhô lên 2 bên; unus với gốc phát triển, đỉnh chia đôi và cong về phía bụng; aedeagus rất dày; thùy gốc của pygofer vắng mặt.

Loài Versicolora ziyongi

Loài mới này có thể được phân biệt ở aedeagus không lõm gần đỉnh mà có một đường gờ ở mép bụng giữa của đỉnh (nhìn từ mặt bên).

Kích thước con đực: chiều dài cơ thể 32,5-38,4mm, chiều dài cánh trước 40,9-45,3mm; chiều rộng cánh trước 13,4-15,0mm; chiều rộng của đầu (gồm cả mắt kép) 8,3-8,8mm; mảnh lưng ngực trước (pronotum) rộng 11,8-13,6mm; mảnh lung ngực giữa (mesonotum) rộng 9,7-10,1.

Phân bố: Trung Quốc (Quảng Đông)

Loài Versicolora bellula

Loài mới này giống với V. ziyongi nhưng có thể được phân biệt bằng các đặc điểm hình thái của ngực và đầu, hình dạng của gai trên đốt đùi, và hình dạng của uncus và aedeagus.

Kích thước con đực: chiều dài cơ thể 33,4-37,9mm, chiều dài cánh trước 41,2-45,1mm; chiều rộng cánh trước 14,9-16,0mm; chiều rộng của đầu (gồm cả mắt kép) 8,2-8,8mm; mảnh lưng ngực trước (pronotum) rộng 12,7-13,9mm; mảnh lung ngực giữa (mesonotum) rộng 10,2-11,9.

Phân bố: Việt Nam (Cao Bằng, Lào Cai), Trung Quốc (Vân Nam)

Mẫu vật nghiên cứu của loài Versicolora ziyongi được lưu giữ tại Bảo tàng Côn trùng thuộc Trường Đại học Nông lâm Tây Bắc, Trung Quốc; mẫu vật của loài Versicolora bellula được lưu giữ tại Bảo tàng Côn trùng thuộc Trường Đại học Nông lâm Tây Bắc, Trung Quốc, Trung tâm Đa dạng sinh học và Tự nhiên hà Lan và Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Mô tả chi tiết của loài được đăng tải trên Tạp chí Zootaxa 4759 (2): 277–286.

Nguồn tin: Phạm Hồng Thái, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, VAST

Hình 1. Mẫu chuẩn con đực loài Versicolora ziyongi. A. hình thái ngoài, nhìn từ mặt lưng; B. hình thái ngoài, nhìn từ mặt bụng; C. đầu và ngực, nhìn từ mặt lưng; D. đầu và ngực, nhìn từ mặt bụng; E. bụng, nhìn từ mặt bụng; F. pygofer, nhìn từ mặt bụng; G. pygofer, nhìn từ mặt bên; H. chân trước bên trái.

 

Hình 2. Mẫu chuẩn con đực loài Versicolora bellula. A. hình thái ngoài, nhìn từ mặt lưng; B. hình thái ngoài, nhìn từ mặt bụng; C. đầu và ngực, nhìn từ mặt lưng; D. đầu và ngực, nhìn từ mặt bụng; E. bụng, nhìn từ mặt bụng; F. pygofer, nhìn từ mặt bụng; G. pygofer, nhìn từ mặt bên; H. chân trước bên trái.

Hình 3: Loài Versicolora bellula, mẫu vật thu từ tỉnh Lào Cai (A–E) và mẫu vật thu từ tỉnh Cao Bằng (F–G). A. hình thái ngoài con đực, nhìn từ mặt lưng; B. hình thái ngoài con đực, nhìn từ mặt lưng; C. hình thái ngoài con đực, nhìn từ mặt bụng; D. hình thái ngoài con cái, nhìn từ mặt lưng; E. hình thái ngoài con cái, nhìn từ mặt bụng; F. hình thái ngoài con đực, nhìn từ mặt lưng; G. hình thái ngoài con đực, nhìn từ mặt bụng.

Hình 4: Aedeagus của con đực loài Versicolora bellula, mẫu vật thu từ tỉnh Lào Cai. A. pygofer, nhìn từ mặt bụng; B. pygofer, nhìn từ mặt bên; C. pygofer, nhìn từ mặt bên bụng; D. pygofer (phóng to hơn), nhìn từ mặt bên bụng.

Tin cùng loại