BA LOÀI MỚI CHO KHOA HỌC THUỘC CHI NEWMANIA (HỌ GỪNG-ZINGIBERACEAE) ĐƯỢC PHÁT HIỆN Ở MIỀN TRUNG VIỆT NAM

            Trong chương trình hợp tác nghiên cứu thực vật của Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam viện Sinh thái học Miền Nam thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam với vườn thực vật Singapore từ năm 2012 đến nay, đã thu thập, nghiên cứu nhiều mẫu thuộc bộ Gừng (Zingiberales) ở Việt Nam. Kết quả, nhiều loài mới cho khoa học đã được phát hiện, trong đó, ba loài mới thuộc chi NewmaniaN. cristata, N. gracilisN. sontraensis vừa được mô tả và công bố.

Trước đó, năm 2011, Jana Leong Škorničkova và cộng sự công bố một chi thực vật mới cho khoa học, Newmanina N.S. Lý & Škorničk thuộc họ Gừng (Zingiberaceae,) cùng với 2 loài mới là Newmanina serpensN. orthostachys từ miền Trung Việt Nam. Năm 2014, loài thứ 3 trong chi này được mô tả, có tên khoa học là Newmania sessilanthera Lưu & Škorničk.

Cho đến nay, tổng số loài trong chi này ở Việt nam là 6 loài. Hiện chưa phát hiện nào về các loài thuộc chi Newmanina ở các nước lân cận hay trên thế giới, nên có thể tạm cho rằng, đây là chi đặc hữu của Việt Nam. Một số đặc điểm hình thái ngoài của các loài trong chi này rất giống đặc điểm của 2 chi Sa nhân (Amomum) và Gừng (Zingiber), đặc biệt khi mẫu vật đã ép, sấy khô càng khó phân biệt. Các loài thuộc chi Newmania phân bố ở miền Trung và Tây Nguyên Việt Nam.

Tóm tắt đặc điểm 3 loài mới như sau:

1. Newmania cristata Luu, H.Đ.Trần & Škorničk., sp. nov.: Cây thảo, cao tới 100 cm, phiến lá hình thuôn hẹp, cỡ 12-24×3,5-7 cm (nhỏ hơn về phía trên). Cụm hoa mọc từ thân rễ, 10-14 hoa; hoa dài 4,5-5 cm; cánh môi màu tím đến tím đỏ, hình trứng ngược, cỡ 2-2,5×1,2-1,4 cm, đầu thường uốn ra phía ngoài, xẻ xuống 1-2 mm thành 2 thùy. Quả chưa thấy.

Phân bố: Ninh Thuận (Vườn Quốc gia Núi Chúa, huyện Ninh Hải).

2. Newmania gracilis Škorničk., Q.B.Nguyen & H.Đ.Trần, sp.nov.: Cây thảo, cao đến 80 cm. Phiến lá hình trứng đến trứng hẹp, cỡ 6,5-13×3-4 cm, nhẵn cả 2 mặt, gốc phiến tù, đầu nhọn. Cụm hoa mọc từ thân rễ, có 3-6 hoa, hoa dài đến 7 cm, cánh môi màu tím nhạt đến tím-hồng, hình trứng ngược rộng, cỡ 1,7-2,1×1,1-1,4 cm, các vân trắng tỏa từ gốc đến giữa cánh môi, dạng dẻ quạt, đầu khía sâu chia thành 2 thùy. Quả hình trứng, cỡ 3,5 × 1,4 cm.

Phân bố: Kon Tum (Kon Plông).

3. Newmania sontraensis H.Đ.Trần, Luu & Škorničk., sp.nov.: Cây thảo, cao đến 160 cm. Phiến lá hình thuôn đến thuôn hẹp, cỡ 12-22×4-5 cm, nhẵn cả 2 mặt. Cụm hoa mọc từ thân rễ, có 7-12 hoa; hoa dài 8-10,5 cm, cánh môi hình trứng đến thuôn, cỡ 28-35×16-18 cm, màu tím sẫm, có vân trắng ở giữa, gốc và 2 mép cánh môi. Quả hình trứng, cỡ 3-3,5×1.3 cm.

Phân bố: Thừa Thiên-Huế (Nam Đông), Quảng Nam (Đại Lộc.).

 

Hình ảnh loài Newmania gracilis

Hình ảnh loài Newmania sontraensis

Bài báo được đăng trên tạp chí Phytotaxa số 367 (2): 145–157 (2018).

Tin: Nguyễn Quốc Bình

Phòng Sinh học, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam.

 

Tin cùng loại