BẢO TỒN CÁC LOÀI THIẾU DỮ LIỆU ĐANG BỊ ĐE DỌA: BÀI HỌC TỪ MỘT LOÀI BƯỚM NHIỆT ĐỚI MANG TÍNH BIỂU TƯỢNG (TEINOPALPUS AUREUS)

Với áp lực ngày càng gia tăng từ việc buôn bán động vật hoang dã, các nỗ lực bảo tồn phải cân bằng sự thiếu hụt dữ liệu phân bố của các loài với nguy cơ tăng khả năng tiếp cận địa điểm phân bố của loài đối với những người săn bắt. Bướm phượng đuôi kiếm răng nhọn (Teinopalpus aureus Mell) là một loài bướm biểu tượng, phân bố giới hạn ở Đông Nam Á, bị buôn bán khá phổ biến trên thị trường thế giới, nhưng lại thiếu thông tin về sinh thái và bảo tồn. Chúng tôi đã nghiên cứu, đánh giá các mối đe dọa trên toàn bộ vùng phân bố của T. aureus ở phạm vi cấp quốc gia. Kết quả của các mô hình phân bố loài cho thấy môi trường sống thích hợp của loài là những khu rừng trên núi độ cao từ trung bình đến cao ở miền Nam Trung Quốc, Lào và Việt Nam. Tuy nhiên, môi trường sống của loài bị chia cắt, một số nơi bị phá rừng nghiêm trọng và bị đe dọa do biến đổi khí hậu. Kết quả đánh giá về buôn bán của loài cho thấy mẫu vật của loài đã được bán với giá cao, cho thấy áp lực tiềm tàng từ thị trường thương mại. Chúng tôi cũng ghi nhận tình trạng bảo tồn và các nỗ lực để bảo vệ T. aureus ở các quốc gia. Loài được bảo vệ nghiêm ngặt ở Trung Quốc, bảo vệ mức độ vừa phải ở Việt Nam và không được bảo vệ ở Lào. Cả vùng phân bố được ghi nhận và vùng phân bố dự đoán ​​ở ba quốc gia đều không được bảo vệ tốt từ các khu rừng đặc dụng.

Những kết quả nghiên cứu chứng minh tầm quan trọng của dữ liệu phân bố trong quản lý bảo tồn các loài bị đe dọa, trong khi nhấn mạnh sự đánh đổi vốn có trong việc không cung cấp thông tin địa điểm phân bố rộng rãi khi có áp lực thương mại. Cuối cùng, chúng tôi khuyến khích hợp tác xuyên biên giới trong việc chia sẻ thông tin sinh thái để quản lý bảo tồn nhất quán các loài bị đe dọa từ mất môi trường sống, thay đổi khí hậu và buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp.

Một số kết quả nghiên cứu chính:

Phân bố hiện tại của T. aureus

Dựa trên các điều kiện khí hậu trong số các địa điểm đã được ghi nhận của T. aureus, chúng tôi thấy rằng loài bướm này ưa thích nơi sống ở độ cao trung bình, tương đối mát mẻ và ẩm ướt ở miền Nam Trung Quốc, Lào và Việt Nam. Nhiệt độ không khí dao động từ 12,96°C đến 20,71°C, với nhiệt độ không khí trung bình hàng năm là 16,84°C và lượng mưa trung bình hàng tháng là 149,10 mm. Các điều kiện khí hậu trong thời kỳ hoạt động của bướm trưởng thành hơi ấm hơn và ẩm hơn so với cả năm. Độ cao được ghi nhận dao động từ 439,42m đến 1905,85m với giá trị trung bình là 1010,84 m.

Bản đồ môi trường sống phù hợp của loài cho thấy miền nam Trung Quốc có không gian phù hợp lớn nhất cho T. aureus và một số khu vực ở phía bắc Lào và Việt Nam cũng phù hợp (Hình 1). Tuy nhiên, môi trường sống phù hợp được dự đoán hiện đang thể hiện mức độ phân mảnh cao và ít kết nối trên toàn bộ vùng phân bố phù hợp (Hình 1). Độ cao trung bình dự vùng phân bố phù hợp hiện tại dao động từ 813,75m đến 1280,27m ở mỗi quốc gia.

Hình 1. Khung đánh giá tính dễ bị tổn thương của T. aureus (biểu tượng cộng và trừ cho thấy tác động tích cực và tiêu cực tiềm tàng của việc công bố thông tin phân bố của loài để hiểu và giảm thiểu ba mối đe dọa được đề xuất) cùng với môi trường sống phù hợp ước tính giữa các khu vực nơi T. aureus đã được ghi lại (màu xanh biểu thị mức độ phù hợp cao hơn trong khi màu trắng biểu thị mức độ phù hợp thấp hơn).

Dự đoán thay đổi phân bố:

Với sự thay đổi khí hậu, môi trường sống phù hợp trong hầu hết phân bố ước tính hiện tại sẽ giảm nghiêm trọng như dự đoán của ba mô hình GCM cho cả hai kịch bản RCP 2.6 và RCP 8.5 vào năm 2070 (Hình 2). Trong các kịch bản phát tán đầy đủ (giả sử T. aureus có thể xâm nhập bất kỳ vị trí nào mà không bị giới hạn về mặt sinh học), loài này sẽ cần phải di chuyển 140,21 - 554,34 m lên trên để đảm bảo môi trường sống phù hợp với khí hậu và loại rừng thích hợp theo hai kịch bản RCP ở các quốc gia khác nhau. Trong các kịch bản không phát tán, trung bình sẽ có sự mất mát trung bình 76,93%, khoảng từ 53,59% đến 96,87% (tùy theo kịch bản) của môi trường sống phù hợp hiện tại ở ba quốc gia theo các kịch bản biến đổi khí hậu khác nhau.

Hình 2. Dự đoán sự thay đổi của sự phù hợp với môi trường sống với các kịch bản biến đổi khí hậu khác nhau bởi các mô hình GCM khác nhau vào năm 2070. Màu xanh lam cho thấy sự phù hợp với môi trường sống trong khi màu đỏ cho thấy sự phù hợp với môi trường sống giảm.

Mất rừng trong những thập kỷ gần đây gây ra cho loài T. aureus:

Mức độ mất rừng khác nhau giữa các quốc gia. Mất rừng nghiêm trọng nhất cho loài này xảy ra ở Lào, trong đó khoảng 8,99% vùng phân bố phù hợp dự đoán ​​của loài bị mất rừng từ năm 2000 đến 2015, các khu vực mất rừng dường như nghiêm trọng và dữ dội nhất ở miền bắc Lào gần biên giới với Việt Nam (Hình 3). Tương tự, 8,65% vùng phân bố tại Trung Quốc mất rừng, trong khi mô hình mất mát dường như được phân bổ đều hơn trên toàn bộ vùng phân bố dự kiến của T. aureus. Ở Việt Nam, 8,28% vùng phân bố mất rừng, chủ yếu ở miền Nam Việt Nam (Hình 3).

Hình 3. Độ che phủ rừng bị mất từ năm 2000 đến 2015 trong phân bố hiện tại dự đoán của loài T. aureus. Màu đỏ đậm hơn cho thấy cường độ mất rừng cao hơn.

Tên bài báo: Xinga S., Aua T.F., Dufoura C. P., Chenga W., Yuana L. F., Jiac F. , Vu V. L., Wange M., Bonebrake C. T. 2019. Conservation of data deficient species under multiple threats: Lessons from an iconic tropical butterfly (Teinopalpus aureus). Biological Conservation 234, 154-164.

Toàn văn bài báo có thể xem tại: https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0006320719300138

Tin: Vũ Văn Liên

Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, VAST

Tin cùng loại