MÔ TẢ 2 LOÀI CÁNH CỨNG MỚI CHO KHOA HỌC THUỘC GIỐNG XYLEBORUS (COLEOPTERA: CURCULIONIDAE: SCOLYTINAE: XYLEBORINI)

Các nhà khoa học của Trường Đại học Bang Michigan, Trường Đại học Florida và Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam vừa công bố 2 loài cánh cứng mới cho khoa học. Loài mới này thuộc giống Xyleborus, tộc Xyleborini, phân họ Scolytinae, họ Curculionidae, bộ Cánh cứng Coleoptera.

Loài bọ cánh cứng được mô tả lần đầu tiên thuộc giống Xyleborus là loài Xyleborus glabratus Eichhoff, 1877 có nguồn gốc từ Đông Nam Á, mẫu vật được thu được trên cây Long não họ Lauraceae. Nó tạo thành một sự cộng sinh với nấm Raffaelea lauricola T.C. Mitch., Fraedrich & Aghayeva, có thể hoạt động như một mầm bệnh trong cây chủ sống.

Với sự khác biệt về hình thái, hai loài mới đã được mô tả: Xyleborus insidiosusXyleborus mysticulus.

Loài Xyleborus insidiosus: có chiều dài cơ thể con cái: 2,70−2,80 mm (trung bình = 2,74 mm; n = 5); có chiều dài bằng 3,00−3,50 lần chiều rộng. Cơ thể và chân màu nâu thẫm;

Phân bố: Việt Nam (Cao Bằng), Trung Quốc (Sichuan).

Loài Xyleborus mysticulus: có chiều dài cơ thể con cái: 2,20−2,50 mm (trung bình = 2,38 mm; n = 5); có chiều dài bằng 3,14−3,57 lần chiều rộng. Cơ thể có màu sắc đồng nhất, màu rỉ sắt đến màu nâu sẫm. Chân và râu màu vàng nâu;

Phân bố: Việt Nam (Cao Bằng), Đài Loan (Trung Quốc).

Mô tả chi tiết của loài được đăng tải trên Tạp chí Journal of Economic Entomology, 112(3), 2019, 1274–1284

Nguồn: Phạm Hồng Thái - Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam

Hình 1: Loài Xyleborus insidiosus. Holotype, con cái: (A) nhìn từ mặt bên; (B) nhìn từ mặt lưng; (C) nhìn từ phía sau; (D) nhìn từ phía trán.

Hình 2: Loài Xyleborus mysticulus. Holotype, con cái: (A) nhìn từ mặt bên; (B) nhìn từ mặt lưng; (C) nhìn từ phía sau; (D) nhìn từ phía trán.

Tin cùng loại