NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN VÀ MÔ TẢ HÌNH THÁI NÒNG NỌC HAI LOÀI LƯỠNG CƯ Ở VIỆT NAM

Nhóm nghiên cứu các nhà khoa học Phòng Bảo tồn Thiên nhiên thuộc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã nghiên cứu quá trình phát triển và mô tả hình thái nòng nọc của hai loài lưỡng cư thuộc họ ếch cây (Rhacophoridae), nhóm loài chiếm ưu thế trong các họ lưỡng cư phân bố ở Việt Nam với hơn 80 loài được ghi nhận. Hai bài báo mô tả nòng nọc loài Rhacophorus calcaneus (Ếch cây cựa) và loài Theloderma gordoni (Ếch cây sần go đôn) được nhóm nghiên cứu công bố trên các tạp chí chuyên nghành Revue suisse de Zoologie Journal of Herpetology.

Các mẫu nòng nọc được định loại tên loài dựa trên các dữ liệu phân tích về mã vạch di truyền, các chỉ số hình thái ngoài, hình thái răng của nòng nọc được phân tích và mô tả chi tiết

  1. Loài Rhacophorus calcaneus, Smith 1924

Đây là một loài ếch cây đặc hữu của Việt Nam được mô tả lần đầu năm 1924 dựa trên mẫu thu từ Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng, đến năm 2008 được các nhà khoa học ghi nhận lại tại Vườn quốc gia Chư Yang Sin, tỉnh Đắk Lắk. Bài báo ghi nhận lần đầu tiên phân bố của loài tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa. Sáu mẫu nòng nọc của loài được định tên dựa theo phương pháp mã vạch ADN, chúng thuộc các giai đoạn 32, 36, 37, 41, 42 (Gosner, 1960) và có các đặc điểm chung: thân và đuôi màu nâu với nhiều đốm màu đen, phần bụng có màu hơi sáng. Cơ thể có kích thước trung bình TL: 42,79 mm (giai đoạn 32) thân hơi dẹp trên dưới. Nhìn từ trên xuống, thân nòng nọc có hình trứng; mắt có kích thước trung bình nằm ở hai bên của thân, hướng trước. Nòng nọc có lỗ thở đơn nằm phía bên trái; chiều cao của vây trên và vây dưới tương đương nhau. Đĩa miệng nằm ở phía trước thân, hướng trước dưới, có hàng nhú gai thịt bao xung quanh, hàng nhú gai dưới có khoảng nhẵn. Công thức răng sừng (LTFR): 7(2-7)/3(1).

Hình 1: Ảnh vẽ nòng nọc loài Rhacophorus calcaneus thu từ Khu bảo tồn Thiên nhiên Hòn Bà, Khánh Hòa (Giai đoạn 32) A: mặt bên; B: Mặt lưng (tỉ lệ 1mm), C đĩa miệng (tỉ lệ: 0,5 mm)

  1. Loài Theloderma gordoni Taylo, 1962

Đặc điểm hình thái nòng nọc của loài được mô tả dựa trên 3 mẫu nòng nọc thuộc giai đoạn 28, 31 và 32, các mẫu nòng nọc thu được từ quá trình sinh sản của các mẫu trưởng thành thu từ Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Mẫu nòng nọc có đặc điểm chung: cơ thể có màu xám đen ở mặt lưng và bụng, phần giữa bụng hơi xanh. Thân nòng nọc hình trứng, hơi nhọn ở phần mũi kích thước cơ thể trung bình (50,1-54,5 mm ở giai đoạn 28 -33), phần rộng nhất của thân nằm ở khoảng giữa thân, rộng thân lớn hơn cao thân: BH/BW: 0,77, BW/BL: 0,75. Mõm tù, lỗ mũi tròn nằm gần mõm hơn mắt. Lỗ thở đơn nằm phia bên trái cơ thể. Chiều cao vây bụng nhỏ hơn vây lưng và cả hai vây đều thon ở hai đầu. quanh miệng có nhú gai, số lượng nhú gai trên mỗi hàng 51-55. Hàm trên có 4 hàng răng sừng, hàng thứ nhất nguyên, hàng thứ 2 đến hàng thứ 4 chia đôi. Hàm dưới có 3 hàng răng sừng liên tục. Công thức hàng răng sừng (LTRF): 4(2-4)/3.

Hình 2. Ảnh nòng nọc loài Loài Theloderma gordoni và đĩa miệng

Tin: Nguyễn Thiên Tạo

Tên bài báo và tạp chí:

  1. First record of the Vietnam Flying Frog, Rhacophorus calcaneus Smith, 1924, from Khanh Hoa Province, including the first molecular identification and morphological description of larval stages. Revue Suisse de Zoologie (September 2018) 125(2): 231-238.
  2. First Description of the Tadpole of Theloderma gordoni Taylor, 1962 (Anura: Rhacophoridae) from Vietnam. Journal of Herpetology, Vol 52, No. 3, 348-351.

Tin cùng loại