PHÁT HIỆN BA LOÀI THỰC VẬT RÁNG CÁNH BẦN MỚI CHO KHOA HỌC TỪ VIỆT NAM

Ba loài mới cho khoa học thuộc chi Arachniodes, họ Ráng Cánh bần- Dryopteridaceae được phát hiện và mô tả. Ba loài mới này có tên khoa học là Arachniodes daklakensis, A. longicaudataA. quangnamensis. Chúng tôi thu được mẫu vật các loài này dựa trên chuyến đi nghiên cứu thực địa năm 2013 và 2014 giữa các nhà khoa học của Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam và Viện Sinh học Thành Đô, Trung Quốc.

Chi Arachniodes là một trong những chi khó đinh danh trong ngành dương xỉ. Hình thái rất đa dạng, gây khó khăn trong định loại mẫu. Đó cũng là lý do tại sao cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu chi tiết nào về chi này. Trong khi đó, hầu hết các chi dương xỉ khác đã được nghiên cứu và công bố.

Ba loài mới này là kết quả dựa trên phân tích hình thái và sinh học phân tử dựa trên 7 vùng gen ngoài nhân (xem hình 1- cây phát sinh sơ lược của từng nhánh trong chi). Hai loài A. daklakensisA. quangnamensis đều thuộc cùng phân nhánh Dimorphophylla của nhánh Arachniodes, trong khi loài mới thứ ba, A. longicaudata thuộc nhóm Nigrosporosa của phân nhánh Simpliciorae của nhánh Arachniodes. Cả ba loài này thuộc nhánh chính B.

Hình 1. Cây phát sinh sơ lược của từng nhánh/ nhóm của chi Arachniodes (7 gen ngoài nhân)

Loài mới Arachniodes quangnamensis Li Bing Zhang, Ngan Thi Lu & Liang Zhang

Type:—VIETNAM. Quangnam Province: Songthanh Nature reserve, elev. 400–460 m, 5 December 2014, Li Bing Zhang, Liang Zhang & Ngan Thi Lu 7926 (holotype VNMN!, isotypes CDBI!, MO!).

Loài mới thu được Khu bảo tồn Thiên nhiên Sông Thanh, tỉnh Quảng Nam năm 2014. Mẫu chuẩn hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam. Về mặt hình thái loài này giống với loài Arachniodes dimorphophylla (Hayata 1911: 428) Ching (1962: 257). Điểm giống nhau đó là đều có lá sinh sản và lá không sinh sản riêng biệt. Ổ túi bào tử nhỏ đường kính 1.5–2 mm và gần gân hơn mép lá. Sự khác nhau giữa hai loài này là ở loài mới có thân rễ ngắn, thẳng hoặc gần thẳng. Phiến hơn 2 lần kép, bao mô không nguyên. Trong khi loài so sánh có thân rễ dài, ngang, phiến 3 lần kép, bao mô nguyên.

Loài mới Arachniodes longicaudata Li Bing Zhang, N.T. Lu & Liang Zhang

Type:—VIETNAM. Nghean Province: Pumat National park, elev. 350 m, 29 october 2014, Li Bing Zhang, Liang Zhang & Ngan Thi Lu 7189 (holotype VNMN!, isotypes CDBI!, MO!).

Loài mới này có tính ngữ tên “longicaudata” nghĩa là chóp lá kéo dài. Loài mới này thu được ở Vườn Quốc gia Pù Mát, Nghệ An năm 2014. Hiện mẫu chuẩn đang lưu giữ ở Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam. Về mặt hình thái, loài mới này gần giống với loài Arachniodes chinensis (rosenstock 1914: 30) Ching (1962: 257), đó là cả hai loài có phiến 2 lần kép, hình thoi, lá chét hình thuôn hoặc dạng mác, nhưng loài mới khác ở chỗ là có thân rễ nằm nghiên, đỉnh phiến lá tạo lá chét riêng biệt, ổ túi bào tử gần mép lá hơn là gân lá, bao mô mép không nguyên. Trong khi loài so sánh thì có một số đặc điểm không như vậy.

Loài mới Arachniodes daklakensis Li Bing Zhang, N.T. Lu & X.M.Zhou

Type:—VIETNAM. Daklak Province: Chu Yang Sin National Park, elev. 1080–1250 m, 30 october 2015, Li Bing Zhang, Xin-Mao Zhou, Thien Tam Luong, Minh Tri Dang, Bich Ha Duong 8967 (holotype PHH!, isotypes CDBI!, MO!)

Loài này có tên đặt theo địa danh nơi phát hiện loài năm 2015, tại Vườn quốc gia Chư Yang Sin, tỉnh Đắk Lắk. Hiện loài mới mẫu chuẩn đang lưu giữ tại phòng mẫu, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, T.P Hồ Chí Minh. Loài mới này có hình thái gần nhất với loài Arachniodes neoaristata Ching (1986: 34). Cả hai loài này có chung đặc điểm là phiến lá mang 5 cặp lá chét sơ cấp. Vẩy màu đỏ-nâu, hình mác hoặc kim. Nhưng hai loài có đặc điểm sau để phân biệt: Nếu phiến hình trứng-ngũ giác, đỉnh phiến đột ngột nhỏ hẹp lại và tạo nên lá chét ở đỉnh, lá chét thứ cấp (lần 2) có mép không gai, bao mô mép không nguyên là đặc điểm đặc trưng của loài mới.

Một số hình ảnh về loài mới:

Hình 2. Loài Arachniodes longicaudata.—A, D & E. Hình thái chung và dạng sống.—B & C. Đoạn dưới của cuống lá.—F. Gốc phiến lá.—G. Hình thái lá.—H. Đỉnh lá.—J. Một phần lá chét.—K. Một phần lá chét với ổ túi bào tử và mép lá.

Hình 3. Hình thái vẩy, bào tử, bao mô của ba loài mới. A–C, H, I & L. Arachniodes quangnamensis.—A. Vẩy thân rễ.—B. Vẩy đoạn dưới của cuống lá.—C. Vẩy đoạn trên của cuống.—H & I. Ảnh hình thái bào tử qua SEM.—L. Bao mô mép xẻ. D, E, J, K & N. A. longicaudata.—D. Vẩy đoạn dưới của cuống lá.—E. Vẩy đoạn trên của cuống.—J & K. Ảnh hình thái bào tử qua SEM. —N. Bao mô mép xẻ dạng sợi dài. F, G & M. A. daklakensis.—F. Vẩy đoạn dưới của cuống lá.—G. Vẩy đoạn dưới của cuống lá.—M. Bao mô mép xẻ dạng sợi dài 

Hình 4. A–H: Arachniodes quangnamensis.—A & B. Dạng sống.—C. Lá không sinh sản.—D. Đoạn dưới của cuống.—E. Lá sinh sản.—F. Một đoạn của phiến lá và lá chét.—G. Vẩy ở trục lá và lá chét nhỏ.—H. Lá chét với ổ túi bào tử và vi vẩy. J–P: A. daklakensis. —J. Lá.—K & M. Lá chét bên dưới nhất của lá.—L. Gốc cuống lá và vẩy.—N. Đỉnh phiến lá.—O. Lá chét phía trên.—P. Lá chét thứ cấp và ổ túi bào tử.

Loài mới được công bố trên tạp chí Phytotaxa, tháng 11/ 2018.

Tin: Lữ Thị Ngân - Phòng Sinh học, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Tin cùng loại