Trong bài báo, các tác giả công bố phiên bản cập nhật của BioTIME phiên bản 2.0. Với sự gia tăng gấp đôi các nghiên cứu trong bộ cơ sở dữ liệu, tư cách thành viên của liên minh BioTIME cũng được cập nhật phù hợp, vì một trong những mục tiêu của cơ sở dữ liệu là ghi nhận công lao của những người thu thập dữ liệu.
Động lực: Tại đây, các tác giả cung cấp phiên bản thứ hai của cơ sở dữ liệu BioTIME, biên soạn hồ sơ ước tính về số lượng loài trong các sự kiện mẫu của các tập hợp sinh thái theo thời gian. Phiên bản cập nhật mở rộng phiên bản 1.0 của cơ sở dữ liệu bằng cách
tăng gấp đôi số lượng nghiên cứu và bao gồm việc quản lý bổ sung đáng kể đối với độ chính xác về phân loại của các dữ liệu ghi nhận, cũng như siêu dữ liệu. Hơn nữa, hiện các tác giả cung cấp một gói R (BioTIMEr) để tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng cơ sở dữ liệu.
Các loại biến chính gồm: Cơ sở dữ liệu bao gồm một bảng dữ liệu chính chứa các hồ sơ về số lượng loài và 11 bảng siêu dữ liệu. Dữ liệu được sắp xếp theo thứ bậc thang đo, trong đó 11.989.233 hồ sơ được lồng vào 1.603.067 dữ liệu mẫu, từ 553.253 địa điểm lấy mẫu, được lồng vào 708 nghiên cứu. Một nghiên cứu được định nghĩa là phương pháp lấy mẫu được áp dụng cho một tập hợp trong tối thiểu 2 năm.
Vị trí không gian và đơn vị: Các vị trí lấy mẫu trong BioTIME được phân bổ trên khắp hành tinh, bao gồm các vùng biển, trên cạn và nước ngọt. Kích thước và phạm vi đơn vị không gian thay đổi tùy theo nghiên cứu, tùy thuộc vào phương pháp lấy mẫu. Các tác giả khuyên các nhà thu thập dữ liệu nên chia lưới các vị trí lấy mẫu thành các khu vực có kích thước đồng nhất.
Khoảng thời gian và đơn vị: Chuỗi thời gian sớm nhất trong BioTIME bắt đầu vào năm 1874 và các bản ghi số liệu gần đây nhất là từ năm 2023. Đơn vị thời gian và thời lượng thay đổi tùy theo nghiên cứu.
Các đơn vị phân loại chính và mức độ đo lường: Cơ sở dữ liệu bao gồm bất kỳ đơn vị phân loại nhân chuẩn nào, với tổng cộng 56.400 đơn vị phân loại.
Định dạng phần mềm: csv và. SQL.
Bản đồ vị trí dữ liệu thu thập, thông tin dữ liệu, số liệu các đơn vị phân loại của các nhóm sinh vật được minh họa trong các hình dưới đây.

Hình 1. Bản đồ các vị trí thu thập dữ liệu BioTIME. Mỗi ô lưới khoảng 75.000 km2. Hình A chỉ sự phân bố địa lý của các nghiên cứu bổ sung vào BioTIME phiên bản 2.0. Hình B chỉ mật độ không gian của các sự kiện mẫu ở phiên bản 2.0 của cơ sở dữ liệu.

Hình 2. Các lô minh họa tỷ lệ của các nghiên cứu theo các phân loại khác nhau: (A) Taxa (động, thực vật), (B) Vùng (biển, trên cạn) và (C) khí hậu (ôn đới, nhiệt đới), (D) số lượng loài, (E) tổng số bản ghi số liệu và (E) thời gian ghi nhận số liệu (năm). Lưu ý rằng chuỗi thời gian được xác định bằng cách sử dụng gói BioTIMEr, trong đó các chức năng hiện có sẵn để giúp người dùng xác định, phân tách và chuẩn hóa dữ liệu BioTIME dựa trên vị trí (vĩ độ/kinh độ); ở đây, áp dụng mỗi đơn vị là 75.000 km2.

Hình 3. Trình bày tỷ lệ các đơn vị phân loại khác nhau trong BioTIME 2.0. Đối với mỗi đơn vị phân loại, các tác giả cung cấp số lượng loài được đưa vào cơ sở dữ liệu so với số lượng loài mà khoa học biết đến theo Danh mục sự sống (Bánki et al. 2024) được truy cập vào ngày 17 tháng 12 năm 2024. Lưu ý rằng phạm vi bao phủ cao hơn nhiều ở một số nhóm (ví dụ: cá mập 37,2%) so với các nhóm khác (ví dụ: côn trùng 0,92%).
Nguồn tin: Vũ Văn Liên, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, VAST
Nguồn trích dẫn tài liệu: Dornelas M., Antao H.L., Bates E.A.,…Lien Van Vu,….Avuloni A.2025. Global Ecology and Biogeography, 2025; 34:e70003. 25. https://doi.org/10.1111/geb.70003.
